Re: Giới Bồ Tát của Người Tại Gia --- 6 Gi


Posted by ... ..108..72.127 on Jul 08, 2015 at 21:51:33:

In Reply to: Giới Bồ Tát của Người Tại Gia posted by ... on Jul 08, 2015 at 21:30:51:


II. Sáu giới trọng:

(1) Giới giết hại:

Chư phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân mạng, ngay đến loài trùng kiến, cũng không được giết hại. Nếu phạm giới giết hại, hoặc bảo người giết, hoặc tự ḿnh giết, sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời, không thể chứng được noăn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Đây là giới trọng thứ nhất.
Dù cho mất thân mạng, ngay đến loài trùng kiến, cũng không được giết hại: Đối với cảm quan của loài người, cho rằng trùng, kiến là những loài vật bé nhỏ, cho nên coi thường sinh mệnh của chúng. Khi giết hại những loài trùng kiến này, không những không cảm thấy xúc động, mà nhiều khi lại c̣n cảm thấy "thích thú". Thế nhưng, đối với Phật pháp, tất cả sinh mệnh của chúng sanh đều b́nh đẳng. Sinh mệnh của loài trùng kiến cũng là sinh mệnh của chính chúng ta. Nếu chúng ta biết yêu tiếc thân mệnh ḿnh, th́ loài trùng kiến cũng biết yêu tiếc thân mệnh của chúng. Do đó, chúng ta không có quyền tước đoạt sinh mệnh của bất cứ loài vật nào.

V́ lư do này, các ưu bà tắc, ưu bà di đă thọ giới Bồ tát, dù cho hy sinh thân mạng của chính ḿnh, cũng không được sát sinh; do đó mới nói: "Dù cho mất thân mạng, ngay đến loài trùng kiến cũng không được sát hại". Đến như giết người, th́ tội lại càng nặng hơn. Ngoài việc phá giới, mất giới thể và chiêu cảm ác báo trong tương lai, lại c̣n không thể sám hối (Theo Đại thừa, tuy có thể sám hối, song sự sám hối cũng không phải dễ dàng, phải thấy được điềm lành, như thấy Phật đến xoa đầu, hoặc thấy hương thấy hoa, v.v..., th́ tội phá giới mới tiêu diệt, thế nhưng, ác báo trong tương lai vẫn không bị trừ diệt).

Đối với những loài vật nhỏ trong các dạng thái: như sinh ra từ trứng, sanh nơi ẩm thấp, sinh ra bằng sự biến hóa, v.v..., nếu vô ư sát hại, tuy không phạm giới, song vẫn phải sám hối để tiêu trừ nghiệp chướng. C̣n nếu cố tâm sát hại, th́ vẫn là phạm vào điều giới này.

Bảo người giết: (Hán: giáo nhân sát): Có hai loại, (1) sai: là dùng lời nói, cử chỉ, hay dấu hiệu, cho kẻ thuộc hạ ra tay sát hại đối phương, dưới sự hiện diện của ḿnh; (2) khiển: ra lệnh, bằng lời nói hay thư từ, cho thuộc hạ truy lùng đối phương để sát hại.

Tự ḿnh giết: nghĩa là tự ḿnh ra tay sát hại. Có ba loại: (1) hoặc dùng nội sắc: nghĩa là dùng tay, chân, hoặc các bộ phận khác của thân thể ḿnh, xúc chạm trực tiếp vào thân thể của đối phương; (2) hoặc dùng ngoại sắc: nghĩa là dùng dao, gậy, cây, đá, v.v... quăng, ném, phóng vào đối phương; (3) hoặc dùng nội ngoại sắc: nghĩa là tay cầm dao, gậy, cây, đá, v.v... xúc chạm vào đối phương.

Mất giới: tức là mất giới thể. Theo Tiểu thừa, mất giới thể là vĩnh viễn mất hẳn, không thể sám hối. Thế nhưng, theo Đại thừa, mất giới thể, chỉ có nghĩa là giới thể tạm thời bị mất đi cái công năng "pḥng phi chỉ ác (đề pḥng lỗi lầm, đ́nh chỉ việc ác)". Giả như, hành giả đem tâm cực kỳ thành khẩn sám hối, theo kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới, nếu thấy được điềm lành, như trong mộng thấy Phật, Bồ tát đến xoa đầu, thuyết pháp, hoặc thấy hương, thấy hoa, v.v..., th́ tội liền được tiêu diệt, và hành giả có thể thọ giới lại, khôi phục giới thể thanh tịnh của ḿnh.

Noăn pháp: Trong giáo pháp Tiểu thừa, trước tiên cần phải vượt qua bốn giai đoạn, gọi là bốn gia hạnh vị, tức là Noăn pháp, Đảnh pháp, Nhẫn pháp, và Thế đệ nhất pháp, sau đó mới có thể chứng đắc bốn thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, và A la hán. Muốn biết thêm chi tiết xin xem Phật học từ điển.

Huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm: Theo giáo pháp Tiểu thừa, người tại gia, tối đa, có thể chứng đến thánh quả A na hàm, chỉ có hàng xuất gia mới chứng được thánh quả A la hán.

Phá giới: tức là hủy phạm những giới trọng mà ḿnh đă thọ. Theo thuật ngữ giới luật, gọi là phạm Ba la di. Đối với bốn giới căn bản, dâm, sát, đạo, vọng, nếu phạm trọng sẽ mất giới thể. C̣n hai giới trọng thứ năm và thứ sáu, tuy cũng phạm trọng, song không mất giới thể.

Xú uế: nghĩa là mùi hôi thối, mọi người ngửi đến cảm thấy nhờm gớm. Trong Phật pháp, tất cả điều ác, đều là do sự tham muốn sanh tử sanh ra, đều bị coi là ô uế. Cho nên kẻ phá giới, do v́ tâm sanh pháp ác, giống như mùi hôi thối của xác chết, không ai dám ngửi.

Cấu ô: Chữ cấu, có nghĩa là trần cấu. Bởi v́ thân thể bài tiết ra những chất bất tịnh, kết thành cấu uế nhơ nhớp. Trong Phật pháp, đem chất cấu nhớp trên thân ví cho vọng tưởng điên đảo. Tâm tính xưa nay vốn thanh tịnh, bởi do vọng tưởng điên đảo (phiền năo) làm ô nhiễm, mà trở thành cấu ô (nhơ nhớp).

Chiên đà la: là giai cấp thấp nhất trong xă hội Ấn Độ, chuyên làm nghề đồ tể. Kẻ Bồ tát tại gia thọ giới, xưa nay vốn đầy đủ tất cả thiện căn, nếu không giữ ǵn giới pháp, giống như đem tất cả thiện căn ra giết sạch. Điều này giống như bọn đồ tể chiên đà la, ḍng dơi thấp hèn.

Bị triền phược: có nghĩa là bị trói buộc, tức là hành giả bị phiền năo trói buộc, kết hợp, thành thử bị trói buộc trong sinh tử luân hồi.

Giới giết hại, có năm duyên thành phạm trọng: (1) đối phương là người, (2) tưởng là người, (3) có tâm sát hại, (4) lập phương tiện, (5) đối phương bị đoạn mệnh.

(Chú ư: Ở đây chỉ đề cập đến trường hợp phạm trọng, mất giới thể, thành thử đối tượng cho sự sát hại là con người, c̣n như sát hại những sinh vật khác, sẽ phạm tội nhẹ hơn. Trong giáo pháp Đại thừa, tuy công nhận tất cả chúng sanh đều b́nh đẳng, song hàng tại gia thọ Bồ tát giới c̣n đang ở trong giai đoạn "chập chửng" học tập Bồ tát hạnh, không thể phán tội quá nặng, giống như các vị Bồ tát đăng địa được. Giả sử, nếu các Bồ tát thập địa phạm giới sát, th́ sẽ phạm trọng mất giới thể, không kể đối tượng là ai! C̣n như các vị tại gia sơ cơ, nếu bị phán tội giống như các vị Bồ tát thập địa, e rằng giới luật sẽ trở thành quá khắc khe, không ai có thể hành tŕ được. Có lư có t́nh, đây là tinh thần của giới luật.)

(2) Giới trộm cắp:

Chư Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân mạng, ngay đến một đồng tiền, cũng không được trộm cắp. Nếu phạm giới trộm cắp sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời, không thể chứng được noăn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Đây là giới trọng thứ hai.

Trộm cắp: Ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp là ba hành vi ác. Ư nghĩa của chúng gần giống nhau, nghĩa là thừa dịp kẻ khác không chú ư, hoặc không đề pḥng, mà đoạt lấy đồ vật của họ, về làm của riêng của ḿnh. Trong Phật pháp gọi là "không cho mà lấy" (Hán: bất dữ thủ).

Kẻ trộm cắp, đầu tiên là do ḷng tham muốn, kế đó bắt đầu dự mưu, tính toán, sau đó thực hành ư đồ của ḿnh, đoạt lấy của cải của kẻ khác đem về làm của riêng, để thỏa ḷng tham muốn của ḿnh.

Trộm cắp, không phải là lấy lầm, mà là biết rơ tài vật đó là của người khác, không phải của ḿnh, hơn nữa, tự ḿnh không có món vật tương tự như vậy, đây hoàn toàn là một hành vi "bất chính".

Ngay đến một đồng tiền: Đây là dùng số lượng nhỏ để ví cho số lượng lớn. Chỉ cần lấy trộm một đồng tiền, cũng đă phạm vào điều giới này, huống chi là lấy trộm một số tiền lớn hơn. Theo giới luật quy định, nếu trộm "năm tiền" sẽ phạm trọng, mất giới thể. Thế nhưng, "năm tiền" là tính theo đơn vị tiền tệ của nước Ma Kiệt Đà của vua Tần Bà Sa La vào thời Đức Phật c̣n tại thế. Hiện nay, "năm tiền" trị giá bao nhiêu, khó mà biết một cách chính xác. Có một số Luật sư Nam truyền, cho rằng "năm tiền" tương đương với khoảng "hai mươi đô la Mỹ" hiện nay. Thế nhưng, theo ư người dịch, chỉ trộm "hai mươi đô la" mà bị mất giới thể, e rằng quy định như thế là quá "nghiêm khắc". Chỉ có cách là khuyên các vị ưu bà tắc, ưu bà di, sau khi thọ giới Bồ tát, đối với điều giới này phải nên rất cẩn thận.

Giới trộm cắp có sáu duyên thành phạm trọng: (1) vật có chủ, (2) biết là vật có chủ, (3) có tâm trộm cắp, (4) vật có giá trị "năm tiền" hay hơn "năm tiền", (5) lập phương tiện, (6) di động vật rời chỗ, dù chỉ là xê xích một li.

(3) Giới đại vọng ngữ:

Chư Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân mạng, cũng không được nói dối: "Tôi đă chứng được pháp quán bất tịnh", hoặc: "Tôi đă chứng được thánh quả A na hàm", vân vân, ... Nếu phạm giới đại vọng ngữ sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời, không thể chứng được noăn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Đây là giới trọng thứ ba.

Nói lời không thực, lừa dối phàm thánh, mê hoặc ḷng người, gọi là nói dối. Trong đây phân làm bốn trường hợp: (1) Vọng ngữ: tức là thấy nói không thấy, không thấy nói thấy; nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, v.v... Trong đây lại chia làm hai loại: (a) đại vọng ngữ, nghĩa là chưa chứng pháp quán bất tịnh, lại nói rằng đă chứng pháp quán bất tịnh, nhẫn đến chưa chứng thánh quả lại nói rằng đă chứng thánh quả; (b) tiểu vọng ngữ: tức là ngoài những lời đại vọng ngữ ra, tất cả những lời vọng ngữ thông thường khác, gọi là tiểu vọng ngữ. (2) Nói lời vô nghĩa (Hán: ỹ ngữ): tức là nói những lời phù phiếm, hoa ḥe, nhẫn đến bàn tán những chuyện nhăm nhí, không lợi ích cho ḿnh và người. (3) Nói lời đâm thọc (Hán: lưỡng thiệt): c̣n gọi là nói lưỡi hai chiều, tức là đến đây nói kia, đến kia nói đây, mục đích gây tạo sự chia rẽ, hiềm khích. (4) Nói lời độc ác (Hán: ác khẩu): tức là nói những lời tục tằn, chửi rủa, trù ẻo, v.v..., làm cho đối phương không thể nhẫn chịu được.

Điều giới này là muốn phán tội của sự đại vọng ngữ, nếu như đại vọng ngữ, sẽ phạm trọng, mất giới thể; c̣n như nói các lời hư vọng khác, sẽ phạm trung tội hoặc tiểu tội, không mất giới thể.

Giới đại vọng ngữ có chín duyên thành phạm trọng: (1) đối phương là người, (2) ḿnh biết đối phương là người, (3) cảnh giới không thật, (4) tự ḿnh biết cảnh giới không thật, (5) có tâm lừa dối, (6) nói cảnh giới không thật, (7) tự nói ḿnh chứng được cảnh giới đó, (8) lời nói rơ ràng, (9) đối phương hiểu ư ḿnh muốn nói.

(4) Giới tà dâm:

Chư Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân mạng, cũng không được tà dâm. Nếu phạm giới tà dâm sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời, không thể chứng được noăn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Đây là giới trọng thứ tư.

Dâm, được phân làm hai loại là chính dâm và tà dâm. Chính dâm là sự giao phối giữa hai vợ chồng chính thức. Ưu bà tắc, ưu bà di đă thọ giới Bồ tát, vẫn có thể làm chuyện "chính dâm" này. Thế nhưng, trong sáu ngày "bát quan trai" trong tháng, ngay cả việc "chánh dâm" cũng bị cấm đoán, mà phải hoàn toàn đoạn dục.

C̣n tà dâm là sự giao phối với kẻ thứ ba, không phải vợ hay chồng chính thức của ḿnh, không luận kẻ đó là nam, nữ, súc sinh, quỷ thần, phi nhân, hoàng môn (bán nam bán nữ), v.v..., dù là c̣n sống hoặc đă chết (hành dâm với thây chết). Nếu hành tà dâm, sẽ phạm trọng, mất giới thể.

Nếu gặp kẻ không phải vợ chồng chính thức của ḿnh, cưỡng bức ḿnh làm chuyện tà dâm, dù cho mất thân mệnh cũng không để cho kẻ đó xâm phạm ḿnh. Huống hồ, đă thọ giới Bồ tát, lại càng không thể cưỡng bức kẻ khác làm chuyện tà dâm.

Ngoài ra c̣n thêm một điều giới liên quan đến sự tà dâm, là điều giới khinh thứ hai mươi (Hành dâm không đúng thời, không đúng chỗ).

Giới tà dâm có hai trường hợp: (1) tự ḿnh tà dâm, (2) bị kẻ khác cưỡng bức tà dâm.

Tự ḿnh tà dâm, có năm duyên thành phạm trọng: (1) không phải người phối ngẫu chính thức của ḿnh, (2) chánh cảnh (người nữ ba chỗ: nữ căn, miệng, và hậu môn; người nam hai chỗ: miệng và hậu môn); (3) khởi tâm dâm dục, (4) lập phương tiện, (5) hợp với chánh cảnh (dù độ sâu chỉ bằng hột mè).

Bị cưỡng bức tà dâm, có năm duyên thành phạm trọng: (1) không phải người phối ngẫu chính thức của ḿnh, (2) chánh cảnh (người nữ ba chỗ: nữ căn, miệng, và hậu môn; người nam hai chỗ: miệng và hậu môn); (3) bị cưỡng bức dâm dục, (4) hợp với chánh cảnh (dù độ sâu chỉ bằng hột mè), (5) cảm thọ khoái lạc.

(5) Giới rao nói tội lỗi của bốn chúng:

Chư Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân mạng, cũng không được rao nói tội lỗi của bốn chúng: tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di. Nếu phạm giới rao nói tội lỗi của bốn chúng sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời, không thể chứng được noăn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, hoặc A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Đây là giới trọng thứ năm.

Rao nói (Hán: tuyên thuyết): có nghĩa là dùng ngôn ngữ, bao hàm lời nói, văn tự, tranh ảnh, v.v..., để truyền bá cho mọi người biết.

Tội: nếu như trong Phật pháp, là chỉ cho sự phá giới, c̣n như trong thế gian pháp, là chỉ cho sự phạm pháp.

Lỗi: tức là những lỗi lầm tương đối nhẹ khác.

Bốn chúng đệ tử, tuy đă tiếp thọ giới pháp tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, nhưng tất cả đều vẫn c̣n là phàm phu, vẫn có thể phạm vào lỗi lầm. Trên thế gian, không có ai là kẻ toàn thiện, trừ đức Phật.

Tỳ kheo, tỳ kheo ni, có ba nghĩa: (1) bố ma: khi một người xuất gia thọ giới cụ túc, ma cung liền bị chấn động, đồng thời, ma vương cũng cảm thấy sợ hăi, cho nên gọi là bố ma; (2) khất sĩ: trên th́ khất (xin) pháp của chư Phật, dưới th́ khất thực (thức ăn) của chúng sanh; (3) phá ác: tỳ kheo, tỳ kheo ni tu tập giới, định, tuệ, phá diệt tất cả các pháp ác như tham, sân, si, v.v..., cho nên gọi là phá ác.

V́ tỳ kheo, tỳ kheo ni có đầy đủ ba nghĩa như trên, cho nên nếu rao nói tội lỗi của họ, cũng tức là phá hoại Tam bảo. C̣n ưu bà tắc, ưu bà di, là những người hộ tŕ Tam bảo, nếu rao nói tội lỗi của họ, sẽ là cho họ thoái thất tâm hộ tŕ Phật pháp. V́ những lư do này, đă thọ giới Bồ tát, nếu rao nói tội lỗi của bốn chúng, sẽ phạm trọng.

Bốn chúng tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, là bốn cột trụ của ṭa nhà Phật pháp. Nếu phá hoại một trong bốn cột trụ đó, th́ ṭa nhà Phật pháp sẽ bị sụp đổ. Nếu như thấy có người trong bốn chúng phạm tội, hoặc làm lỗi, nên khéo léo khuyến cáo họ một cách kín đáo. Nếu như họ không chịu nghe lời khuyên nhắc, cũng không nên đem tội, lỗi đó ra mà rao nói cho kẻ khác biết. Ngài Liên Tŕ có nói: "Không thấy lỗi của người xuất gia, đây là liều thuốc hay nhất của hàng cư sĩ." Bởi vậy, cư sĩ tại gia, tuyệt nhiên không nên nói lỗi lầm của người xuất gia.

Sự học của các bậc thánh mới thực là sự học "đến nơi đến chốn". Đức Khỗng tử nói: "Ba người cùng đi, ắt phải có vị thầy của ḿnh. Thấy điều thiện th́ học hỏi, thấy cái không thiện th́ nhân đó mà cải đổi chính ḿnh." Các vị Phật tử, nếu thấy người khác có lỗi lầm, nếu như ḿnh đă khuyên nhắc kín đáo mà họ vẫn không nghe, chỉ nên đi t́m vị thiện tri thức khác để học hỏi, tuyệt nhiên không nên rao nói lỗi lầm của họ. Các vị ưu bà tắc, ưu bà di đă thọ giới Bồ tát, phải nên cẩn thận điều này.

Giới nói lỗi của bốn chúng có năm duyên thành phạm trọng: (1) đối phương là một trong bốn chúng, (2) biết đối phương là một trong bốn chúng, (3) có tâm rao nói tội lỗi, (4) rao nói tội lỗi, (5) người nghe hiểu ư ḿnh muốn nói.

(6) Giới bán rượu:

Chư Phật tử! Sau khi thọ giới Bồ tát tại gia, dù cho mất thân mạng, cũng không được bán rượu. Nếu phạm giới bán rượu sẽ lập tức mất giới Bồ tát; trong hiện đời không thể chứng được noăn pháp, huống hồ là thánh quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Kẻ đó là Bồ tát phá giới, Bồ tát xú uế, Bồ tát cấu ô, Bồ tát chiên đà la, Bồ tát bị triền phược. Đây gọi là giới trọng thứ sáu.

Điều giới này tương tự với điều giới trọng thứ sáu, Không được bán rượu, của kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới.

Rượu, là một chất độc là cho người uống mê say, đánh mất nhân tính. Uống rượu không những nguy hại đến sức khỏe, mà c̣n, nếu uống quá lượng, sẽ làm cho người uống trở thành nghiện ngập, lại c̣n có thể làm cho họ phát cuồng, phát điên. V́ thế bán rượu cho người khác uống, th́ cũng gần giống như giết người; hơn nữa, kẻ say rượu lại có thể làm nguy hại đến luân lư xă hội, cùng những việc nguy hiểm đến tính mạng kẻ khác, do đó, ưu bà tắc, ưu bà di đă thọ giới Bồ tát, nếu c̣n bán rượu sẽ phạm trọng. Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới có nói: "Tất cả rượu đều không được bán. Rượu là nhân duyên sinh ra tội lỗi. Là Phật tử, lẽ ra phải làm cho tất cả chúng sanh có trí tuệ sáng suốt, mà trái lại đem sự say mê điên đảo đến cho họ. Phật tử này phạm Bồ tát ba la di tội."

Các Bồ tát tại gia, nếu trước đó đă làm nghề bán rượu, th́ phải tức khắc đổi sang nghề khác. Tuy có do đây mà bị thất nghiệp, hoặc cuộc sống bị nguy ngập, cũng không trở lại làm nghề bán rượu này. Nếu như người nhà phản đối, th́ nên để cho kẻ chưa thọ giới Bồ tát tiếp tục làm, c̣n vị ưu bà tắc, ưu bà di đă thọ giới Bồ tát, tuyệt đối không nên dính líu vào công việc làm của họ. Nếu không lại phạm vào tội đồng lơa, hoặc phạm vào điều giới "chỉ dạy cho kẻ khác bán rượu".

Giới bán rượu có năm duyên thành phạm trọng: (1) đối phương là người, (2) biết đối phương là người, (3) có tâm bán rượu cầu lợi, (4) rượu thật, (5) bán cho đối phương.

.......



Follow Ups:
Monitor only
Password:   

Post A Followup

Name:       E-Mail:
Subject:
Comments: (Xin nhớ đ�nh một chấm v�o khung điện thư ph�a tr�n)
 M� đang d�ng: 

VIETUNI [V1.618] viết bởi Trần Anh Tuấn, lấy từ website ch�nh của Anh Tuấn


[ VSGardens Dharma Forum ]