Re: Giới Bồ Tát của Người Tại Gia --- 6 Gi


Posted by ... ..172..30.132 on Jul 10, 2015 at 11:30:42:

In Reply to: Re: Giới Bồ Tát của Người Tại Gia --- 6 Gi posted by ... on Jul 08, 2015 at 21:51:33:

........


III. Hai mươi tám giới khinh:

(1) Giới không cúng dường cha mẹ, sư trưởng:

Chư Phật tử! Đức Phật đă dạy: Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, không cúng dường cha mẹ, sư trưởng, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Cúng dường: có nghĩa là đem vật sở hữu, tùy khả năng của ḿnh, bố thí cho cha mẹ, sư trưởng và các bậc có đức sử dụng; mà trong đó, đặc biệt nên "cúng dường" cha mẹ, sư trưởng. Bởi v́, (1) "thân người khó được", mà cha mẹ lại là kẻ sinh ra thân mệnh ḿnh; (2) "Phật pháp khó nghe", mà sư trưởng lại là kẻ giảng dạy Phật pháp cho ḿnh. Ơn nghĩa của cha mẹ, sư trưởng đối với chúng ta sâu rộng như trời biển, bởi thế chúng ta phải nên cúng dường phụng sự.

Kinh Trang Nghiêm, quyển mười hai, có nói: "Các Bồ tát v́ muốn thành tựu lục độ, cho nên trong mỗi địa, đều nhất định phải tu sáu việc: (1) phải tu cúng dường, đây là thành tựu bố thí ba la mật; nếu như không bố thí lâu dài, th́ sẽ không thành tựu bố thí độ, ...." Nếu đă là bồ tát th́ phải tu lục độ. Cúng dường, tức là bố thí ba la mật, cho nên cúng dường cha mẹ, sư trưởng, tức là để thành tựu, viên măn "bố thí độ" vậy.

Nếu kẻ nào không cúng dường cha mẹ, sư trưởng, th́ đó là kẻ ngỗ nghịch vô đạo. Pháp thế gian c̣n không dung thứ, huống hồ là trong Phật pháp! Kẻ không cúng dường cha mẹ, sư trưởng, là kẻ đi ngược lại bổn nguyện của chư Phật, Bồ tát, cho nên, tuy họ nhất tâm niệm Phật, niệm Bồ tát, th́ vẫn không thể nào tương ưng với chư Phật, Bồ tát được.

Tội sơ ư: có hai lối giải thích, (1) theo ngài Thái Hư Đại sư, sơ ư là không chú ư (Anh: unmindful) mà phạm, hành giả có thể sám hối, và không bị mất giới thể, (2) theo lối giải thích thứ hai, sơ ư là sự [tạm thời] quên mất tâm Bồ đề, cùng ư thức về sự lập thệ thọ giới, và ư thức về vai tṛ Bồ tát của ḿnh (Anh: not being mindful and losing the initial intention in taking the precept.)

Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi (Hán: Bất khởi đọa lạc, bất tịnh hữu tác): Kẻ nào phạm vào những điều giới này, nếu không khởi tâm thành khẩn sám hối, sẽ bị đọa lạc vào ba đường ác, đó là kẻ cấu uế, bất tịnh, tiếp tục tạo nghiệp sinh tử luân hồi (Anh: If one does not have the mind of repentance, one will deteriorate. One is impure, and will continue to create defiled karma that leads to transmigration in the cycle of birth and death).

(2) Giới uống rượu:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, ham mê uống rượu, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Ham mê (Hán: đam nhạo): nghĩa là quá phần ham thích, đến độ mê luyến.

Như điều giới trọng thứ sáu, Giới bán rượu, có nói sơ lược, uống rượu làm tổn hại sức khỏe, lại c̣n làm cho tâm thần mê muội, mất hết nhân tính, nhẫn đến phát cuồng phát điên. Không những không thể tu hành, mà c̣n lại không thể làm những nghề nghiệp sinh sống chánh thường. Do đó, Bồ tát tại gia không nên uống rượu.

Uống rượu là nghiệp ác, thế nhưng, v́ chỉ tự hại ḿnh, thành thử phạm tội tương đối nhẹ, song nếu đưa rượu cho người khác uống, quả báo sẽ nặng hơn. Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới nói: "Nếu tự tay trao chén rượu cho người uống, sẽ mang ác báo năm trăm đời không tay (nghĩa là đọa vào loài súc sanh)". C̣n như bán rượu, tội lại càng nặng hơn nữa, tức là sẽ phạm trọng, và quả báo sẽ ở địa ngục.

(3) Giới không chăm sóc người bệnh:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, gặp người bệnh khổ, sinh khởi ác tâm, bỏ phế không chăm sóc, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Ác tâm: Chữ ác, theo tiếng Hán có ba nghĩa: (1) ác độc, (2) ghét, (3) nhờm gớm. Nói chung, ác tâm có nghĩa là tâm không lành, không từ bi, v.v...

Điều giới này và điều giới hai mươi tám (Đi đường gặp người bệnh không chăm sóc) tương đương với điều giới ba mươi hai (Không chăm sóc người bệnh) trong quyển Du Già Bồ Tát Giới. Thế nhưng lời văn của quyển giới bổn Bồ tát tại gia này quá đơn giản, thành thử phải dựa vào quyển Du Già Bồ Tát Giới để giải thích, mới có thể giúp cho người thọ giới Bồ tát tại gia thọ tŕ đúng pháp.

Đại ư của điều giới này và điều giới hai mười tám, muốn nói là nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thấy người bệnh, lại khởi tâm ác, không chăm sóc, lo lắng cho người bệnh, sẽ phạm tội sơ ư. C̣n nếu như không phải v́ ác tâm, mà chỉ v́ biếng nhác, vô trách nhiệm, th́ cũng phạm, song tương đối nhẹ hơn. Theo quyển Du Già Bồ Tát Giới, có mười trường hợp khai duyên, tuy không chăm sóc người bệnh, mà vẫn không phạm, là khi: (1) tự ḿnh có bệnh; (2) hoặc ḿnh không đủ khả năng, sức lực; (3) hoặc ḿnh nhờ kẻ có sức lực, có khả năng, chăm sóc dùm người bệnh; (4) hoặc ḿnh biết người bệnh có bà con, thân thích, có thể chăm sóc cho họ; (5) hoặc người bệnh c̣n sức lực, có thể tự lo liệu; (6) hoặc bệnh của người đó thường phát tác (lành rồi lại bệnh, bệnh rồi lại lành); (7) hoặc người đó bị bệnh kinh niên; (8) hoặc ḿnh đang phải chuyên tâm tu tập, không thể tạm bỏ phế việc tu hành; (9) hoặc tự ḿnh là người ám độn, sự tu tập hạnh Bồ tát chưa được tiến bộ; (10) hoặc ḿnh đang chăm sóc người bệnh khác.

(4) Giới không bố thí người đến xin:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thấy người đến xin, không tùy sức ḿnh mà bố thí ít nhiều, để cho kẻ đến xin ra về tay không, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Bố thí: bao gồm cả tài thí, pháp thí, và vô úy thí.

Để cho kẻ đến xin ra về tay không (Hán: không khiển hoàn): Theo nghĩa chữ Hán, không những không cho mà c̣n xua đuổi (khiển) họ đi. Điều giới này, đối với Bồ tát Bồ tát tại gia, v́ c̣n ở tŕnh độ sơ cơ, nên phán tội tương đối nhẹ, c̣n nếu y vào Du Già Bồ Tát Giới mà phán tội th́: nếu có người đến xin mà bỏn sẻn, không bố thí (dù ít dù nhiều), mà lại c̣n xua đuổi, sẽ phạm trọng (ba la di tội).

(5) Giới không chào hỏi lễ lạy các bậc tôn trưởng:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, gặp các vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, hoặc các vị Bồ tát tại gia thọ giới trước, không đứng dậy tiếp đón, lễ lạy, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Bồ tát tại gia thọ giới trước: nghĩa là những kẻ thọ giới Bồ tát tại gia trước ḿnh (dù một ngày, một giờ, hay một phút).

(6) Giới khinh mạn người phạm giới:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thấy tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di phạm giới, sinh tâm kiêu mạn, cho rằng ḿnh hơn họ, họ không bằng ḿnh, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Kiêu mạn là một trong năm phiền năo căn bản, tức là tham, sân, si, mạn, và nghi. Tự cho ḿnh là cao, rồi từ đó lăng nhục, khinh miệt kẻ khác, không có ḷng bao dung, kính trọng. Do đó mà tự chiêu lấy rất nhiều phiền năo. Kinh Đại Tập nói: "Phá núi kiêu mạn, nhỗ cây sinh tử", do đây mà biết rằng kiêu mạn và sinh tử là hai sự chướng ngại quan trọng ngang nhau, mà hành giả tu tập Phật pháp cần phải phá diệt trước nhất.

Hơn nữa, Phật nói nhân quả, tự ḿnh làm tự ḿnh chịu. Kẻ tŕ giới được quả lành, kẻ phạm giới bị quả ác, do đây, thấy kẻ khác phạm giới, tự ḿnh nên đề cao cảnh giác, hoặc đem ḷng từ bi mà đối đăi với họ. Nếu sinh tâm khinh mạn, tức là đi ngược lại bổn nguyện của ḿnh, vi phạm giới pháp mà ḿnh đă thọ, do đó Phật mới chế định điều giới này để răn cấm chúng ta. C̣n như, nếu lại đi rao nói sự phạm giới của họ, th́ sẽ phạm vào điều giới trọng thứ năm, rao nói tội lỗi của bốn chúng.

(7) Giới không thọ sáu ngày bát quan trai giới mỗi tháng:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, mỗi tháng không thọ sáu ngày bát quan trai giới, không cúng dường Tam bảo, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Nếu mỗi tháng không thọ sáu ngày bát quan trai giới (Hán: Nhất nguyệt chi trung, bất năng lục nhật thọ tŕ bát giới): Sáu ngày bát trai giới, tính theo âm lịch, là các ngày 8, 14, 15, 23, 29, 30 (28, 29, nếu là tháng thiếu). Tám điều giới gọi là quan (đóng lại), nghĩa là đóng cửa tà ác, c̣n điều "không ăn phi thời" gọi là trai, tức là không ăn quá ngọ.

Phụ chú: Nếu Bồ tát tại gia, v́ hoàn cảnh không thuận tiện, không thể thọ tŕ sáu ngày bát trai giới trong một tháng, tốt nhất nên tạm xả điều giới này, sau đó chọn những ngày thuận tiện trong tháng để thọ bát trai giới, cũng sẽ hoạch được rất nhiều công đức.

(8) Giới không đi nghe pháp:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, trong ṿng bốn mươi dặm có chỗ giảng kinh thuyết pháp mà không đến nghe, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Trong ṿng bốn mươi dặm: Bốn mươi dặm là tính theo dặm Tàu, tức là khoảng mười hai cây số. Thời đức Phật, phương tiện giao thông chính là đi bộ, cho nên thời gian để đi bộ mười hai cây số là khoảng bốn tiếng đồng hồ. Hiện nay, giao thông tiện lợi, khoảng cách có thể tùy đó mà nới rộng ra.

Phụ chú: Đức Như Lai chế định giới luật, không phải là những giới điều cứng nhắc, mà luôn luôn tùy hoàn cảnh của kẻ thọ giới mà phán định. Giả như kẻ thọ giới không có phương tiện giao thông, hoặc bận rộn công việc, lo sinh kế gia đ́nh, không thể đến nghe pháp, th́ có thể mượn băng giảng kinh về nghe cũng tốt, song công năng phát sinh do sự nghe băng không thể so với công năng của sự nghe trực tiếp với vị thầy giảng pháp.

(9) Giới thọ dụng đồ dùng của chư Tăng:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, thọ dụng đồ dùng của chư Tăng, như ngọa cụ, giường, ghế, v.v..., th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Thọ dụng đồ dùng của chư tăng (Hán: thọ chiêu đề tăng ngọa cụ, sàng, ṭa): Trong câu chữ Hán, "chiêu đề tăng", dịch là tứ phương tăng, nếu nói tổng quát là chỉ tất cả các bậc xuất gia. Ngọa cụ, theo nghĩa rộng là đồ nằm, tức là mền, mùng, chiếu, gối, v.v..., sàng ṭa, tức là ghế, bàn, giường, v.v... Hơn nữa, chữ thọ, theo tiếng Hán, có hai nghĩa: (1) nhận lấy, (2) sử dụng. Thành thử, điều giới này có hai lối giải thích: (1) không được thọ nhận đồ của chư tăng (nếu họ cho ḿnh), (2) không được sử dụng đồ của chư tăng.

Bản chú giải tiếng Hoa của cư sĩ Trí Minh giải thích như sau: "Ưu bà tắc, ưu bà di, tuy đă thọ giới Bồ tát tại gia, song thân tâm vẫn c̣n "bất tịnh", nếu sử dụng đồ dùng của "chiêu đề tăng", như đồ nằm, giường, ghế, v.v..., không phải là không nhiễm ô (bị nhiễm ô), đây là sự bất kính. V́ lư do này, Bồ tát tại gia không thể sử dụng."

Phụ chú: Kẻ tại gia sử dụng đồ đạc của người xuất gia, e rằng đối với các bậc xuất gia sẽ sinh tâm khinh lờn, v́ thế tốt nhất nên giữ khoảng cách, đối với đồ dùng của các bậc xuất gia, không nên sử dụng.

(10) Giới uống nước có trùng:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nghi nước có trùng, mà vẫn cố ư uống, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Nghi nước có trùng: Chữ trùng ở đây, phải hiểu là những sinh vật có tầm kích mà mắt có thể thấy được, do đó một bản giới bổn tiếng Anh dịch là "insect". Nếu như mắt thường không thể nh́n thấy th́ kể như không có, và được xem là không phạm. C̣n nếu như cho rằng chữ trùng có nghĩa là vi sinh vật (micro-organism), th́ e rằng tất cả loại nước mà chúng ta sử dụng, trừ loại nước thuần khiết (pure water), đều có trùng ở trong, và như vậy, đă ra ngoài phạm vi của điều giới này.

Phụ chú: Điều giới này, trong hoàn cảnh hiện nay, tương đối khó phạm, v́ mọi nơi đều có cung cấp nước uống tinh khiết, chỉ khi nào lâm vào hoàn cảnh bất đắc dĩ, như đi lạc vào rừng sâu, chẳng hạn, mới phải đặt ra vấn đề này. Điều quan trọng ở đây là sự "cố ư uống", c̣n nếu như vô ư, không biết có trùng, th́ không phạm.

Ngài Ấn Thuận, trong bài "Bàn luận về sự ăn chay", đă viết cảm nghĩ như sau: " ... Có kẻ chủ trương ăn thịt không có ǵ phương ngại, hoặc có kẻ cho rằng không thể không ăn thịt. Những kiến giải của những kẻ ăn thịt này, rất là phức tạp, nhưng điều mà bọn họ coi thường mọi người nhất, là treo lên cái chiêu bài giả dối, mệnh danh khoa học. Bọn họ cho rằng: "Chúng ta không thể không sát sinh, không sát sinh là điều bất khả". Cho nên theo bọn họ, từ sự không sát sinh đưa đến sự không ăn thịt, là điều vô ư nghĩa. Bọn họ cho rằng cây cỏ cũng có sinh mệnh, cho nên những kẻ ăn rau trái, cũng không tránh khỏi sự sát sinh. Bọn họ cho rằng: "Ăn chay (không ăn thịt) cũng không phải là triệt để, như khi uống một hớp nước, trong nước có biết bao nhiêu sinh vật! Hít một hơi thở vào, trong không khí cũng có biết bao nhiêu sinh mệnh. Nếu như muốn chân thật không sát sinh, không ăn thịt, th́ phải nên không uống nước, không hít thở không khí. Như thế, chỉ có sự chết mà thôi!

... Phật giáo nói đến sự sát sinh và không sát sinh, trong đó bao hàm tính chất thiện ác (đạo đức, không đạo đức). Điều này chẳng phải thuộc về phạm vi của thế giới khoa học (vật lư, hoá học, v.v...), mà cũng chẳng phải là những vật hiện ra dưới kính hiển vi, hay trong kính viễn vọng (trong khoa học vật lư không có sự phân biệt giữa thiện và ác), mà đây là sự việc thuộc về phạm vi của thế giới đạo đức, là nơi có sự pha trộn giữa lư và t́nh, có sự tương quan giữa tâm và sắc, cho nên vấn đề phải được bàn luận qua sự quan hệ của t́nh và lư, tâm và cảnh.

Trước tiên, từ đối tượng của sự sát sinh mà nói: sát sinh, nghĩa là muốn nói đến sự sát hại những sinh vật có t́nh thức (cũng gần giống như người thường nói đến động vật). Các chúng sinh có t́nh thức, đều có bản năng là "ham sống sợ chết". Nếu như chúng nó bị tổn thương, hay bị giết chết, đều sinh khởi sự sợ hăi, thống khổ, oán hận, phẫn nộ, chống đối. Ví như, nếu có sự giết nhau giữa người và người, đôi bên sẽ tạo thành sự kết thù, kết oán, mưu hại lẫn nhau. C̣n cây cỏ là những vật không có t́nh thức, tuy có những hiện tượng của một sinh mệnh như sinh sản, dinh dưởng, v.v..., thế nhưng, lúc bị tổn hại, chúng chỉ có những phản ứng vật lư, mà không có những phản ứng tâm thức. Chẳng hạn, như khi chúng ta đốn cây, chặt cỏ, điều này không làm cho cây cỏ sinh khởi sự chống đối, tàn hại lẫn nhau, v́ thế, chúng ta cũng không bị ảnh hưởng bởi nghiệp lực của sự tàn sát. Cho nên, Phật giáo nói đến sát sinh, là chú trọng đến vấn đề đối phương có sinh khởi phản ứng của tâm thức hay không? Nhân đây có đưa đến liên hệ của sự thù hận, đối địch hay không? Cái luận điệu "ăn chay là sát sanh", hiển nhiên là do việc không hiểu rơ sự thực này, mà cũng không hiểu rơ ư nghĩa thực sự của sự tại sao lại cấm đoán sát sanh! ..."

......



Follow Ups:
Monitor only
Password:   

Post A Followup

Name:       E-Mail:
Subject:
Comments: (Xin nhớ đ�nh một chấm v�o khung điện thư ph�a tr�n)
 M� đang d�ng: 

VIETUNI [V1.618] viết bởi Trần Anh Tuấn, lấy từ website ch�nh của Anh Tuấn


[ VSGardens Dharma Forum ]