Re: Giới Bồ Tát của Người Tại Gia --- 6 Gi


Posted by ... ..172..30.30 on Jul 10, 2015 at 15:05:38:

In Reply to: Re: Giới Bồ Tát của Người Tại Gia --- 6 Gi posted by ... on Jul 10, 2015 at 11:30:42:

....

(11) Giới đi một ḿnh trong chổ nguy hiểm:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, đi một ḿnh trong chỗ nguy hiểm, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Chỗ nguy hiểm (Hán: hiểm nạn xứ): tức là, như trong kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới, điều giới khinh thứ ba mươi bảy có nói rơ: "Chớ đi đến những chỗ có tai nạn, cơi nước hiểm ác, nhà vua hung bạo, đất đai gập ghềnh, cỏ cây rậm rạp, những chỗ có sư tử, cọp, sói, cùng những nơi có lụt, băo, nạn cháy, giặc cướp, hoặc đường sá có rắn rít, v.v..."

Đi một ḿnh (Hán: vô bạn độc hành): Dù có bạn cùng đi, cũng vẫn phải suy xét là có thể cùng nhau giải trừ các hiểm nạn hay không. Nếu có thể, th́ nên đi; c̣n nếu không, cũng không nên đi vào những chỗ nguy hiểm.

"Thân người khó được", nay đă được thân người, phải khéo sử dụng nó, không thể mạo hiểm một cách phi lư, làm tổn hại thân mệnh. "Phật pháp khó nghe", những kẻ đă thọ giới Bồ tát tại gia, đều đă phát tâm Bồ đề, đă phát bốn hoằng thệ nguyện "trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh", nếu mạo hiểm gặp sự tổn hại, đây cũng là một sự "mất mát" cho Phật pháp.

(12) Giới một ḿnh đến ngủ đêm tại chùa ni (tăng):

Nếu Bồ tát tại gia nam (nữ), sau khi thọ giới, một ḿnh ngủ đêm tại chùa ni (tăng), th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Điều giới này được phân làm hai trường hợp: (1) Bồ tát tại gia nam (ưu bà tắc), một ḿnh đến ngủ đêm tại chùa ni, (2) Bồ tát tại gia nữ (ưu bà di), một ḿnh đến ngủ đêm tại chùa tăng.

Ưu bà tắc, v́ hộ tŕ đạo trường, có những nhân duyên như xây cất, thỉnh tượng, phóng sinh, in kinh, cúng dường, v.v..., thường tới lui với ni chúng. Nếu như một ḿnh đến ngủ đêm tại chùa ni, người khác thấy được, sinh tâm nghi ngờ, hoặc tạo khẩu nghiệp như dị nghị, đàm tiếu, phỉ báng, v.v... Nếu như thường tới lui, phát sinh t́nh cảm, và do đó, một ḿnh đến ngũ đêm ở chùa ni, e rằng sẽ dễ phạm giới dâm. V́ lư do này, Đức Phật cấm chế ưu bà tắc không được một ḿnh đến ngủ đêm tại chùa ni. Cùng những lư do như trên, ưu bà di cũng không thể một ḿnh đến ngủ đêm tại chùa tăng.

(13) Giới v́ của đánh người:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, v́ tiền của mà đánh đập chửi rủa tôi tớ, hoặc người ngoài, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.
Người ngoài: nghĩa là không phải tôi tớ, hay người thân thuộc của ḿnh.

Đánh đập là thân nghiệp, chửi rủa là khẩu nghiệp, giận dữ (nguyên nhân của sự đánh đập chửi rủa) là ư nghiệp. Như vậy, hành động đánh đập chửi rủa đă tạo tác ba nghiệp thân khẩu ư bất tịnh.

(14) Giới bố thí thức ăn thừa cho bốn chúng:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, đem thức ăn thừa bố thí cho tỳ khưu, tỳ khưu ni, hoặc ưu bà tắc, ưu bà di khác, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Thức ăn thừa: tức là thức ăn mà ḿnh hoặc người khác đă dùng qua, c̣n thừa lại, như cơm, rau, trà, trái cây, bánh mứt, v.v...

Bố thí: vốn là một việc làm phúc đức, như trong kinh Phật Thuyết Hiền Giả Ngũ Phúc Kinh có nói "Người đem thức ăn bố thí cho chúng tăng, sẽ được năm điều lợi: (1) tướng mạo trang nghiêm, (2) sức lực dồi dào, (3) thọ mạng lâu dài, (4) an ổn không bệnh, (5) có tài ăn nói".

Mục đích của sự bố thí là tập xa ĺa sự bỏn sẻn, cho nên, đối với bốn chúng, phải đem ḷng thành kính, bố thí thức ăn ngon lành tinh khiết. Nếu như, đem thức ăn thừa bố thí các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, điều này chứng tỏ tâm bỏn sẻn c̣n quá nặng, vả lại, cho kẻ khác ăn thức ăn thừa cũng là một hành vi bất kính, và hơn nữa làm mất đi ư nghĩa của sự bố thí.

(15) Giới nuôi mèo, chồn:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nuôi dưỡng mèo, chồn, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Mèo chồn: hai loài này tính t́nh rất hung tàn, thích giết hại loài vật khác. Loài mèo, ngoài việc bắt chuột, đối với những động vật nhỏ khác, hễ thấy là sát hại; c̣n loài chồn (thợ săn thường huấn luyện để bắt các loại động vật khác), tính t́nh cũng giống loài mèo, thích giết hại các loài vật khác.

Nuôi mèo, nuôi chồn, để chúng giết hại loài vật khác, th́ cũng giống như tự ḿnh giết, hoặc bảo kẻ khác giết, cho nên ưu bà tắc, ưu bà di, sau khi thọ giới Bồ tát, không nên nuôi dưỡng bọn chúng.

(16) Giới nuôi súc vật:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, nuôi dưỡng voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, hoặc các loại súc vật khác, không chịu tịnh thí cho người chưa thọ giới, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Nuôi dưỡng voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, lừa, hoặc các loại súc vật khác: Sáu loài động vật này, đều có thể phục dịch tối đa cho loài người, hoặc bằng sức lực, hoặc cung cấp da, lông, v.v..., hoặc cung cấp thực phẩm; c̣n các loài súc vật khác như heo, gà, vịt, v.v..., th́ đa số cung cấp thực phẩm. Đức Phật từ bi, căn cứ trên sự b́nh đẳng của sinh mệnh của tất cả chúng sinh, cho nên chế định ưu bà tắc, ưu bà di, sau khi thọ giới Bồ tát, không được nuôi dưỡng những loại súc vật này.

Không chịu tịnh thí cho người chưa thọ giới: Tịnh thí, tức là trong lúc bố thí, không cầu sự khen ngợi, hoặc phúc báo thế gian, mà đem công đức của sự bố thí hồi hướng đến quả báo giải thoát Niết bàn. C̣n nếu bố thí với mục đích mong cầu quả báo thế gian, th́ gọi là bất tịnh thí.

Nuôi dưỡng những loài súc vật này chướng ngại cho sự tu hành, v́ nếu chúng không tuân mệnh, chúng ta sẽ khởi tâm sân hận, đánh đập, chửi rủa, trù ẻo, v.v..., gây tạo ba nghiệp ác thân, khẩu, ư. Cho nên, tốt nhất là không nên nuôi những loài vật này. C̣n những loại động vật khác như cá kiểng, chim kiểng, v.v..., nếu như tịnh thí mà không người nhận, hoặc không có hoàn cảnh thiên nhiên thích hợp cho sự phóng sinh, th́ có thể nuôi dưỡng, cho đến khi chúng chết già một cách tự nhiên (không nên đem phóng sinh một cách bừa băi, vô trách nhiệm).

(17) Giới không chứa ba y, b́nh bát, tích trượng:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, không chứa sẳn ba y, b́nh bát, tích trượng để cúng dường chúng tăng, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Ba y: tức là (1) tăng già lê (y chín điều trở lên), (2) uất đa la tăng (y bảy điều), (3) an đà hội (y năm điều). Tỳ kheo, tỳ kheo ni, thường phải có sáu vật không được rời thân, (1) tăng già lê, (2) uất đa la tăng, (3) an đà hội, (4) b́nh bát, (5) tọa cụ, (6) lọc nước, gọi là tam y lục vật.

Tích trượng: c̣n gọi là trí trượng, đức trượng. Bên Hiển giáo dùng để đi khất thực (khua tiếng cho thí chủ biết ḿnh đang hiện diện, hoặc để xua chó dữ), hoặc đuổi trùng (khi ở trong rừng, hay dưới gốc cây, khua tiếng cho những loài trùng như rắn, rết, đi tránh chỗ khác), v.v....

Các bậc xuất gia là những kẻ đă xả bỏ tất cả: nhà cửa, tiền của, vợ con, v.v..., để cầu giải thoát. Các ưu bà tắc, ưu bà di, đă thọ Bồ tát giới, v́ hộ tŕ Phật pháp, cúng dường tăng bảo, cho nên phải chứa những đồ vật mà chúng tăng thường dùng, để có thể tùy thời cúng dường cho các bậc xuất gia khi họ cần.

Điều giới này thích hợp với thời đại nông nghiệp, v́ trong thời đại đó, vật chất thiếu thốn, phương tiện giao thông không được thuận tiện, do đó, Đức Phật đă quy định Bồ tát tại gia phải chứa sẳn những vật trên để tùy lúc cúng dường những đồ vật mà chư tăng đang cần dùng. C̣n hiện nay, trong thời đại công nghiệp, vật chất phong phú, phương tiện giao thông tiện lợi, mua sắm dễ dàng, thành thử Bồ tát tại gia cũng không cần phải tích chứa những món này. Mà những vật như b́nh bát, tích trượng, lọc nước, ngay đến người xuất gia cũng ít ai dùng đến, do đó, tốt nhất là cúng dường tiền mặt để họ tiện việc mua sắm những đồ vật mà họ đang cần thiết. (Chú ư: Sự cúng dường tiền mặt sẽ không vi phạm điều giới "không giữ tiền bạc" của người xuất gia. Điều giới "không giữ tiền bạc" của tỳ kheo đă được khai duyên trong bộ luật "Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ")

(18) Giới không lựa chỗ nước sạch, đất cao ráo để trồng trọt:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, làm nghề canh tác sinh sống, không t́m chỗ nước sạch, đất cao ráo để trồng trọt, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Sinh sống (Hán: vị thân mệnh): tức là duy tŕ sự sinh hoạt của chính ḿnh hoặc gia đ́nh ḿnh, nếu nói rộng ra, bao hàm cả sự sinh hoạt của các vị xuất gia, cùng những kẻ ăn xin. V́ sao? V́ các vị xuất gia, cùng những kẻ ăn xin, đều phải nương nhờ vào sự cúng dường của người tại gia.

Không t́m chỗ nước sạch: nghĩa là chỗ nước không có trùng (có thể thấy được bằng mắt thường). Như khi trồng lúa, cần phải dẫn nước vào ruộng; v́ trong nước, hoặc ao, hoặc sông, hoặc hồ, thường có những sinh vật (mà mắt thấy được), e rằng sinh mệnh của chúng bị tổn hại bởi sự cầy cấy, cho nên, lúc dẫn nước vào ruộng, nên cho qua lưới lọc, hầu tránh sát hại những sinh vật này (nếu mắt thường không thấy được th́ không kể đến --- như điều giới khinh thứ mười đă có nói qua).

Đất cao ráo (Hán: lục chủng xứ): Theo tiếng Hán, lục chủng là những loại thực vật có thể được trồng ở nơi cao ráo (không cần nhiều nước như lúa gạo), như lúa mạch, bông vải, khoai, đậu, rau cải, dưa, trái cây, v.v... Các loại thực vật này, v́ không cần phải dẫn nước, không đến nỗi tạo thành nghiệp sát sanh nghiêm trọng như trồng lúa gạo. Thế nhưng, khi canh tác, trồng trọt, vẫn phải cố gắng hết sức ḿnh, để tránh sự ngộ sát các loài côn trùng. Không nên tùy tiện dùng thuốc hóa học cố ư sát hại. Chớ v́ một chút lợi nhỏ trước mắt mà không nghĩ đến quả báo trong tương lai. Nếu đă thọ giới, phải nên cẩn thận chú ư vấn đề này.

(19) Giới buôn bán không chân chánh:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, làm nghề mua bán: lúc bán hàng, một khi đă đồng ư giá cả, không được lật lọng, đem bán cho kẻ trả giá đắt hơn; lúc mua hàng, nếu thấy người bán cân lường gian lận, phải nói lỗi họ, để họ sửa đổi. Nếu không làm như thế, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Nếu thấy người bán cân lường gian lận, phải nói lỗi họ, để họ sửa đổi: Ưu bà tắc, ưu bà di, sau khi thọ giới Bồ tát, khi mua đồ vật, nếu thấy người bán trong lúc cân, lường, dùng cân non, giạ non, v.v..., nghĩa là thấy rơ đối phương dùng tâm dối trá, gian lận, lúc đó nên bảo rơ cho họ biết, để họ chỉnh đốn lại hành vi, cân lường chân chánh. Nếu như thấy rơ đối phương dùng những thủ đoạn gian giảo, lừa dối, mà không nói rơ cho họ biết, âm thầm chịu thiệt tḥi, tức là đă vô t́nh khuyến khích đối phương tiếp tục làm ác. Vị Bồ tát tại gia đó đă không từ bi cứu vớt bọn họ; không những để cho bọn họ tiếp tục tạo tội, mà chính ḿnh cũng đă tạo nghiệp (tán thành việc ác của kẻ khác). V́ thế, Bồ tát tại gia, trong những trường hợp này, phải nên rất tế nhị, dùng những phương tiện khéo léo để khuyên nhắc, đề tỉnh đối phương. C̣n nếu ḿnh biết rằng đối phương là kẻ bất lương, hung ác, không biết phục thiện, lời ḿnh nói ra có thể sẽ đem đến sự nguy hiểm tính mạng cho chính ḿnh, th́ có thể im lặng, chờ cơ hội khác.

(20) Giới hành dâm không đúng thời, không đúng chỗ:

Nếu Bồ tát tại gia, sau khi thọ giới, hành dâm không đúng chỗ, không đúng thời, th́ phạm vào tội sơ ư. Nếu không khởi tâm sám hối, sẽ bị đọa lạc. Đó là kẻ nhiễm ô, tạo nghiệp sinh tử luân hồi.

Không đúng chỗ (Hán: phi xứ): có hai nghĩa: (1) ngoài bộ phận sinh dục của người nữ ra, tất cả các chỗ khác trên thân đều gọi là phi xứ (không đúng chỗ); (2) ngoài pḥng ngũ chính thức của hai vợ chồng ra, tất cả những nơi khác, như pḥng khách, pḥng ăn, nhà bếp, ngoài đồng trống, v.v..., đều gọi là phi xứ.

Không đúng thời (Hán: phi thời): cũng có hai nghĩa: (1) lúc người vợ đang có thai, hoặc vừa mới sanh đẽ xong chưa được bao lâu; (2) trong những ngày rằm, ngày vía, hoặc những ngày bát quan trai (một tháng sáu ngày, như đă nói rơ trong điều giới thứ bảy).

Nên chú ư, trong những ngày bát quan trai, dù là vợ chồng chính thức cũng không được hành dâm, nếu không, sẽ phạm giới trọng thứ tư (không dâm dục), mất giới thể.

Phụ chú: Nếu vợ chồng cùng đến ở trong chùa, không được hành dâm, nhẫn đến không được ngũ cùng pḥng. Hoặc ở nơi thờ phượng, dù là trong nhà ḿnh, hoặc ở nơi có treo tranh ảnh, hoặc đặt để tượng Phật, Bồ tát, cũng không được hành dâm; nếu như buông lung không kiêng cử, làm việc bất tịnh ở những nơi tôn nghiêm, sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián, như trong kinh Địa Tạng đă nói. Hơn nữa, những kẻ dù chưa thọ ngũ giới, nếu xâm phạm tiết hạnh của người xuất gia, dù họ đồng ư hay không, sẽ phạm biên tội. Kẻ đó, trong đời hiện tại sẽ không được thọ ngũ giới, bát giới, không được xuất gia. Cho nên, khuyên các vị tại gia, đối với các bậc xuất gia, phải nên rất cẩn thận,không nên khởi tâm bất chính.

.....



Follow Ups:
Monitor only
Password:   

Post A Followup

Name:       E-Mail:
Subject:
Comments: (Xin nhớ đ�nh một chấm v�o khung điện thư ph�a tr�n)
 M� đang d�ng: 

VIETUNI [V1.618] viết bởi Trần Anh Tuấn, lấy từ website ch�nh của Anh Tuấn


[ VSGardens Dharma Forum ]