Mời đọc c gio miền Bắc bnh thơ T Thy Yn


Posted by :{ ) ..73..167.189 on Apr 09, 2019 at 05:24:18:


(Lụm từ thng thư)

Chng ti hn hạnh giới thiệu bi viết của c Thảo Dn, bnh luận rất su sắc bi thơ Ta Về của T Thy Yn. Cng ngạc nhin biết c l gio vin miền Bắc, sinh năm 1974:

------------------------------------------------
Xưa giờ, ti vẫn tự nhận mnh m thơ Nam hơn thơ Bắc. Bởi lẽ, với ring ti, thơ l tiếng ni thốt ln tự đy lng, khng cần phin dịch, khng cần triết l, khng cần g b trong những trc trắc diễm lệ cu từ.

>>>>>> Thơ cng chau chuốt, bng bẩy th, hnh như, ci tnh cng ơ hờ, nhạt nhẽo.

>>>>>> Thơ cũng khng phải nơi để gửi gắm triết l. Lm việc đ, văn xui v triết học tốt hơn nhiều. Thơ để cảm, để yu, để nơi tri tim gặp gỡ tri tim. Vậy m c một ngoại lệ, nh thơ ti yu thch trong m thầm, kh lu bền, lại l người được giới ph bnh nhận xt Người Nam nhưng mang hồn thơ Bắc: Nh thơ T Thy Yn.

>>>>>> Thật ra, trong cảm nhận của ti, thơ T Thy Yn c cả Nam, Trung v Bắc, c đủ triết, sử, đời. Nếu chọn đại diện duy nhất thơ cho một nước Việt Nam thống nhất, ti trn trọng đề cử T Thy Yn. Trong ci hệ lụy chung của Hiệp định Geneve chia đi đất nước, th n cũng để lại một tri đẹp lạ lng, đ l sự pha trộn, lm phong ph thm ngn ngữ, văn ha miền Nam, v dường như, T Thy Yn l thi nhn đặc biệt bắt được nhịp thở thời ng sống v nhập cả vo thơ điệu tm hồn Bắc Trung Nam, lm nn một vc dng thơ vạm vỡ, uy nghi, lạ lẫm trong dng chảy văn chương dn tộc với ngn ngữ vừa dn d vừa bc học, vừa bnh dị vừa sang trọng, khng lẫn vo ai khc.
>>>>>>
>>>>>> Nếu ni thơ Chế Lan Vin độc đo ở siu hnh, th thơ T Thy Yn siu hnh khng km. Nếu ni sự trng lệ của cu chữ trong thơ Yến Lan, sự cổ điển của Quch Tấn, tm trong thơ T Thy Yn, đủ cả

>>>>> Cảm hứng về thiện nhin, vũ trụ trong thơ Huy Cận, T Thy Yn khng thua, chưa muốn ni cn rợn ngợp hơn. Về lối viết cch tn của Trần Dần hay sự ti hoa của Quang Dũng, T Thy Yn c nhiều cu khng hề km cạnh. Thơ T Thy Yn mang phong vị thơ Bắc ở cch diễn đạt văn chương, ở lớp lang từ ngữ ước lệ, tượng trưng của Đường luật, ở cch dng ca dao độc đo, duyn dng.

>>>>>> Ti gọi T Thy Yn l Nh thơ khng qu hương. ng sinh ra ở Gia Định nhưng qu hương ng l Việt Nam. Thơ ng ni với ta như thế.
>>>>>>
>>>>>> Thơ T Thy Yn thể hiện một sự tri ngược kh lạ lng. ng l một trong 5 thnh vin của nhm Sng Tạo (m duy nhất ng l người Nam), một nhm thơ mong muốn thổi vo thi ca Saigon khi đ một sự cch tn cả về nội dung lẫn hnh thức, nhưng trong những sng tc của ng, ta thấy ng lại dng tấm o gấm cổ điển để gi bọc nội dung siu hnh, giu tnh triết học, v cng hiện đại.

>>>>>> Bi thơ Cnh đồng con ngựa chuyến tu viết năm 1956 kh tn kỳ. Đặt vo hon cảnh quốc gia Việt Nam Cộng Ha khi đ, n mang tnh thời sự rất cao nhưng vẫn khng bớt chất lng mạn, bay bổng.

>>>>>> Bi thơ mở ra bức tranh động với hnh ảnh cnh đồng một mu xanh cy cỏ nhưng khng bằng phẳng m xui m c g nổng cao v thung lũng su, như ẩn dụ về đường đời đầy thử thch. Trn nền mu xanh của cỏ cy, ch ngựa nu đang rượt tu, rượt tu, rượt tu, cn đon tu vẫn v tri v gic chạy mau, chạy mau, chạy mau để rồi rốt cuộc ngựa thua. Gục đầu, gục đầu, gục đầu ng lăn v để lại trn tấm thảm xanh trải di ht mắt một vết nu.

>>>>>> Dường như, trong hai hnh ảnh sng đi con ngựa v toa tu khng chỉ l cuộc phn tranh giữa thảo mộc phương Đng v Ty phương cơ giới như nh ph bnh Đặng Tiến nhận xt, m dường như, thơ cn muốn mở ra điều su kn hơn: Con tu văn minh rất hiện đại nhưng khng c hồn va, khng c sự sống, khng c cảm xc v vẫn chịu sự điều khiển của con người. Con ngựa (phải chăng l ẩn dụ về con người?), tuy phải trải qua những cung đường gập ghềnh, thử thch, nhưng lun được sống trong những giy pht thăng hoa, c thể thắng thua trn đường đời nhưng lun được lm chủ cảm xc, lun được l mnh. Bi thơ l khc hoan ca về ci ti kiu hnh.

>>>>>> Hoặc nữa, n cn l một lời dự bo, một u lo ngấm ngầm trong tiềm thức: Một ngy no đ, nền văn minh cng nghiệp sẽ tn ph tất cả, bỏ lại loi người bị tước bỏ mi trường sống, khng cn được thung dung như ch ngựa nu an nhin thuộc về cội nguồn thin nhin cy cỏ đồng hoang?

>>>>>> Nhưng, trong phạm vi một bi viết ngắn, khng thể m đồm. Chỉ xin mạo muội chia sẻ một số suy cảm sơ si về bản trường thi lộng lẫy trong kho tng văn chương Việt Nam, được nhiều người ca tụng: TA VỀ.
>>>>>>

>>>>>> TA VỀ- Bản trường thi nhiều lớp lang, cảnh tr: cảnh tr đất trời, cảnh tr con người v cảnh tr của ci lng th thiết. Mỗi khổ thơ tch ring c thể thnh một bi thất ngn tứ tuyệt độc lập, chặt chẽ, hon hảo. Điệp ngữ Ta về được dng như chiếc cha kha mở ra nội tm nh thơ từ lc đặt chn xuống đường lớn, trả lại thn phận tự do

>>>>>> Bi thơ l tiếng lng của một người, cũng l tiếng lng của hng ngn người miền Nam bị đy ải khắp cc nh t từ Nam ch Bắc, từ rừng hoang heo ht, hiểm trở đến những nơi đồng chua nước mặn Đọc bi thơ, ta hiểu về lịch sử, tm sử, chứ khng chỉ l lời gii by khi trở lại qu nh, thậm ch nhm cu thơ tnh i trong bi cũng gợi về dng lệ trn của bao nhiu thn phận thiếu phụ chờ chồng từ những trại cải tạo sau 1975.

>>>>>> Khng ring bi thơ ny, m trong ton bộ sng tc của T Thy Yn, dường như ng lun l người chp sử, luận triết bằng thơ. Ta gặp ở đy lối kết cấu nghệ thuật như trong thơ cổ. Trang đời mới mở ra sau cnh cổng nh t: Trở về, qua trung qua ph, gặp người quen cũ trn đường, gặp cha mẹ, gặp vợ con, đi thăm lng xm, nhớ người cn người mất, tm lại chnh mnh những ngy thng cũ, đan xen l những suy tưởng để tm lại mnh v ph bỏ những xiềng xch tm hồn 10 năm dằng dặc.

>>>>>> Mười năm, khng phải qung thời gian di nhất m một người t VNCH phải trải qua. Lu nhất phải kể đn Thiếu tướng L Minh Đảo, Thiếu tướng Đỗ Kế Giai, Thiếu tướng Trần Quang Khi, Thiếu tướng Phạm Ngọc Sang, Thiếu tướng Phạm Duy Tất, Thiếu tướng L Văn Thn, Thiếu tướng Mạch Văn Trường đều bị t từ thng 5/1975- 1992, tức l 17 năm t. Những người bị t t nhất cũng vi ba năm.

>>>>>> Bản thn T Thy Yn c tổng cộng 13 năm trong t. Nhưng lần đầu, cũng l lần lu nhất: 10 năm. Như vậy, nn hiểu mười năm vừa chỉ thời gian c thật, vừa l khi niệm ẩn dụ, trn một thập kỷ, đủ để thương hải tang điền, đủ cho người thay đổi v đời thay đổi.

>>>>>> Ta về một bng trn đường lớn
>>>>>> Thơ chẳng ai đề vạt o phai
>>>>>> Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
>>>>>> Mười năm đ vẫn ngậm ngi thay.

>>>>>> Ta về được nhắc đi nhắc lại 16 lần, khng phải tiếng reo vui, khng phải lời bo tin mừng m cả bi thơ nặng trĩu trầm ngm suy tưởng. Ta về l kết thc một phần đời đau khổ. Ta về để mở ra chương đời khc chưa biết c đỡ bi thảm hơn khng. Ta về với những giấc mơ mười năm xa trắng. Ta về m như tiếng địch ngn xt xa sầu thảm của trng sĩ thất trận qua sng.

>>>>>> Ti hnh dung ra một con người quần nu, o vải phai mu bởi nắng mưa xứ Bắc, thập thững đi c độc trn đường. Đường vắng. Người gầy, bng đổ. Cả bng lẫn người đều cm lặng. Một cuộc trở về ngậm ngi, khng người thn đưa tiễn, khng ai biết m đn đợi. Ca dao c cu Mnh về em chẳng cho về/ Em nu vạt o em đề cu thơ. Pht chia tay, bt mực đu m đề thơ ln o. L dng lệ của nng vẽ ln o một chữ Tnh đ thi. Đề thơ chỉ l ci cớ để bn nhau lu thm một cht.

>>>>>> Cuộc tiễn đưa dng dằng, lưu luyến. Nhưng với thn phận người t cải tạo khi đ, cn sống m trở về đ l việc thần kỳ, được rời bỏ địa ngục trần gian pht no l biết mnh được sống pht đ, cn c mong chi ai đề thơ vạt o. Mười năm mong mỏi.
>>>>>>
>>>>>> Vậy m sao khi trở về lại đau mềm phế phủ đau thấu tm can, đến nỗi đ cũng cn thay người ngậm ngi rơi lệ?

>>>>>> Bởi nhớ lại những đọa đy kh giấy bt no tả xiết? L nhớ những đoạn trường mẹ gi, vợ dại con thơ trun chuyn đường xa dặm thẳm tu xe cả tuần lễ mới tới nơi thăm nom, để dnh cho một cht thức ăn từ những chắt chiu tằn tiện? Hay đau đứt ruột bởi những huynh đệ chi binh chia ngọt xẻ bi, bảo bọc nhau qua ngy thng kh, giờ chỉ l những nấm mồ hoang c quạnh nằm lại nơi đất khch?

>>>>>> Trong bi Tu đm ti hiện cảnh đon tu chở những người t miền Nam đi đy biệt xứ, T Thy Yn viết những dng rền vang, cht cha như lời trăng trối tuyệt vọng khi đon tu như trong một cơn ging lửa, giữa đm chạy về nơi v định, về nơi cuối trời, v với nhiều thn phận, đ l chuyến đi về nơi cuối đời.

>>>>>> Khi chạy qua những xm lng tối đen im lm của miền Bắc, những bến cảng, nh kho, người t nhớ mẹ, nhớ em, nhớ phố phường hoa lệ, hnh dung mnh như một thứ sinh vật khổ đau bị nghiến dưới đường ray lịch sử v tnh, người t tuyệt vọng thốt ln những tiếng ku bi thảm để mong loi người m sảng trong thứ chủ nghĩa gio điều tăm tối đang im lm kia, thức dậy để biết c những đồng bo, đồng loại đang cn c linh hồn, để cng nhau sống.

>>>>>> Tu ơi hy ko ci lin tục
>>>>>> Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
>>>>>> Lay động những tầng m sảng tối
>>>>>> Loi người hy thức, thức cng nhau

>>>>>> Ngược lại, khi trở về, chỉ l những thanh m im lặng. Một mnh một bng. V khi trở về, người t hồi tưởng lại đoạn đời lao t.
>>>>>>
>>>>>> Vĩnh biệt ta- mười- năm chết dấp
>>>>>> Chốn rừng thing im tiếng nghn thu
>>>>>> Mười năm mặt sạm soi khe nước
>>>>>> Ta ha thn thnh vượn cổ sơ.

>>>>>> Khổ thơ ny l lời đoạn tuyệt 10 năm xa loi người, 10 năm sống trong m ty địa ngục nhưng, ta vẫn bắt gặp tm trạng kiu hnh kn đo của kẻ chiến bại. Tựa vo rừng m tồn tại. Cm lặng như rừng để giữ gn chất Người d cho bị đy đọa đến suy thoi cả hnh hi, hoang d như thời tiền sử. Thn bại nhưng vẫn m thầm sống, mnh liệt sống để danh khng liệt.

>>>>>> C lẽ, khổ thơ ny chỉ nn đọc v cảm nhận, khng cần bnh luận g nhiều về thn phận người t. Để hiểu thm, xin giới thiệu một vi khổ thơ trong bi Ma Hạn ni về cảnh ngộ người t, ng viết năm 1979 ở Nghệ An nhưng phải tới 15 năm sau n mới được in trong Thơ Tuyển, năm 1995 ở Mỹ.

>>>>>> Ở đy địa ngục chn tầng su
>>>>>> Cả giống ni im lặng gục đầu
>>>>>> Cắn chết hm răng, ứa mu mắt,
>>>>>> Chung xiềng nhưng chẳng dm nhn nhau.
>>>>>> Bước tới, chn khng đ đ sắc
>>>>>> Vai trần chn rạn gnh oan khin
>>>>>> Nước khe, cơm độn, thn tn rạc
>>>>>> Sống chẳng khn, cầu được thc thing.

>>>>>> T Thy Yn đ chp lại một thời kỳ tăm tối m ng v chiến hữu đ trải qua, thời kỳ kinh khủng, giữa thời đại văn minh m con người bị đy đọa như sc vật đến nỗi, chung xiềng m khng dm nhn mặt, nghiến đến chết cứng hm răng, mắt ứa mu, v thương bạn, thương mnh, v thn phận bị cầm t đau xt, v mang nỗi hận của hm thing khi đ sa cơ, chỉ tồn tại với nước khe, cơm độn, nắng chy, ct bay, rừng kh rụm, sng hồ nẻ, đ nứt, mung th khng cn, khoai sắn cũng bị dn lng đo sạch, th ha con người đến mức cầu được chết đi v sống nhục nhằn hơn đau khổ hơn l chết.

>>>>>> Để tồn tại v vượt thot, c người t cn ni cu để đời: Con g nhc nhch được l ăn hết. Đ vừa l bản năng sống, vừa l bản lĩnh người. A.I.Solzhenitsyn c tc phẩm Tầng đầu địa ngục đoạt giải Nobel Văn chương năm 1970, ti hiện cuộc sống của những nh khoa học hng đầu của Lin x bị giam cầm như trong địa ngục dưới thời Stalin, khiến cả thế giới bng hong về sự độc c m con người phải trải qua.

>>>>>> Nhưng đ vẫn l Tầng đầu, tầng cao nhất m Dante c thể nghĩ ra trong Thần khc để dnh chỗ cho khoa học gia, những người dm chống lại cả Cha, cn những người t trong thơ T Thy Yn, th đ l Tầng thứ 9. Đủ cho người đọc lạnh người.
>>>>>>
>>>>>> Hnh trnh trở về qua trung qua ph, lặng lẽ, im lm, trời cm đất nn, đời im lm, đng vng.

>>>>>> Người t trở về, l người tự do trong thn phận c chậu chim lồng đu cn c thể ht ln bi ca cũ. Nhưng may mắn, họ khng bị chai sạn tm hồn, vẫn c thể ngẩn ngơ trng trời đất cũ cho d đ khng phải sự ngẩn ngơ lng mạn tm thi hứng, m đ l nỗi xt xa cho phận người, phận mnh, xt xa cho nỗi hưng phế suy vong của lịch sử.

>>>>>> Mười năm, thế giới gi trng thấy
>>>>>> Đất bạc mu đi, đất bạc mu.


>>>>>> Thời gian mười năm được nhắc lại, nhẹ như hơi thở m chất chứa bao điều. Thế giới gi đi, qu hương tan nt sau bao ma bom đạn, qu hương tn tạ sau mỗi chuyển dời. Đất bạc mu bởi người chết, người bị t đy, người đi ln vng kinh tế mới? Chỉ biết qu hương khng cn l qu cũ tr ph, xanh tươi, sum vầy. Điệp ngữ đất bạc mu nghe như tiếng thở di nuối tiếc, xt xa, bất lực. Trước sau, tấm lng kẻ sĩ vẫn l nỗi trăn trở khi đặt những bước chn đầu tin trở lại sau mười năm xa vắng.

>>>>>> Ta về như bng chim qua trễ
>>>>>> Cho vội vng thm gi chuyển ma
>>>>>> Ai đứng trng vời my nước đ
>>>>>> Ngn năm ru tc bạc phơ phơ.
>>>>>> Một đời được mấy điều mong ước
>>>>>> Ni lở sng bồi đ mấy ghi
>>>>>> Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
>>>>>> Mười năm, cổ lục đ ai ghi.

>>>>>> C lẽ m ảnh bởi khng gian vũ trụ siu hnh, nn trong thơ T Thy Yn hay nhắc về cc loi chim, dường như n trở thnh một hệ thống thi php khi ng diễn tả về thời gian, khng gian:

>>>>>> Con chim thần thoại mắt khoen su/Giật mnh như đ ngn năm ngủ/Giữ bụi lng, cất khản tiếng go (Em nhỏ, lm chi chim biển Bắc) Ở đu cn bng chim huyền diệu/ Ht gọi tiền thn ta ti sinh (Ma hạn) Ni xa chim giục gi hong hn (Tưởng tượng ta về nơi Bản Trạch) Con chim no hớt hải ku van (Bất tận nỗi đời hung hn đ) Con chim động giấc go c đơn (Trường Sa hnh) Biển Bắc tuyệt m con nhạn lạc (Mn gt chn sương nắng thng năm) Con chim lạc bạn ku vườn rộng (Vườn hạ), Giữ khuya c tiếng chim ai on (Nỗi đợi) Thương nhớ nghe chừng sng biển cạn/ Nghe chừng gy những cnh chim bay (Thng Chạp buồn)

>>>>>> Hnh ảnh bng chim qua trễ như một m ảnh c độc, lẻ bầy, cũng l chỉ sự trễ muộn của đời người, đi với gi chuyển ma cng gợi sự trống vắng. Tất cả đều đ hư hao, muộn mng, tất cả đ lỡ thời theo ngọn gi heo may của tuổi chớm đng.

>>>>>> Để rồi cn lại, vẫn l nỗi trăn trở khi những vọng động của lịch sử sẽ ngưng ngơi, rơi vo thinh khng im lặng, mười năm, bao nỗi bi thương của dịch chuyển thời thế, bao đau khổ của ni lở sng bồi, đau thương, ly tn. Đ ai ghivừa l cu hỏi, vừa l lời tự sự m lại như một tiếng than thầm. Mười năm ấy, cổ lục chưa từng c sử gia bin chp. Biết bao nhiu mu lệ, ghi mấy cho vừa. Phải vậy chăng, m T Thy Yn tnh nguyện lm người chp sử bằng thơ?

>>>>>> Ta về ci mi đầu sương điểm
>>>>>> Nghe nặng từ tm lượng đất trời
>>>>>> Cảm ơn hoa đ v ta nở
>>>>>> Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.

>>>>>> Đy l một khổ thơ c thể cắt ring thnh một bi tứ tuyt ti hoa, chứa đựng những triết l nhn sinh su sắc. Người xưa dạy, rộng lớn nhất l đại dương, rộng hơn đại dương l bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chnh l lng người.

>>>>>> T Thy Yn đ giải phng mnh khỏi nỗi hận th, thấm nhuần gio l từ bi hỉ xả của nh Phật, để lng mnh snh ngang với trời đất, lắng nghe v cảm tạ lượng đất trời. V mnh từ tm nn mới nhn thấu đất trời từ tm. Ai đ từng trải qua những cảnh ngộ m nh thơ từng trải, sẽ hiểu rằng, được sống, được trở về từ nơi đ từng đy đọa mnh thnh vượn cổ sơ, l may mắn đến nhường no. Chnh v thế, cuộc đời d cay đắng vẫn đng yu đng sống, khi vượt qua địa ngục trần gian cng biết trn qu những vẻ đẹp quanh mnh. Ngắm một đa hoa nở cũng đủ coi như n điển.

>>>>>> Thấp thong từ những cu thơ ti hoa l nụ cười an nhin của người đ qua kiếp nạn, thấm đẫm tinh thần của Lo, Trang, nhn thấy Đạo ngay từ cnh hoa, ngọn cỏ. Tm thiện mở ra tận cng mới cảm nhận được sự từ tm v lượng của vũ trụ.

>>>>>> T Thy Yn đ chạm tới ci v hạn của nhn chi sơ tnh bổn thiện. Khng phải tới khi trải qua khổ nạn, T Thy Yn mới thấu lẽ v vi. Trong thời kỳ chiến tranh, ng đ c những vần thơ xt xa cho người lnh pha bn kia chiến tuyến vừa sốt rt vừa đi lả nhưng vẫn xch lời nguyền sinh Bắc tử Nam để rồi từ đ bật ln kht khao nhn bản, gi như cả hai đều gom gp sức lại th mặt đất ny khc đến bao nhiu.

>>>>>> Ngay thời điểm chiến tranh đang hồi c liệt, m c sự bao dung, vượt ln trn chiến tuyến đ, cn l g nếu khng phải tm thế của người vượt thot giỏi cc giới hạn, m cụ thể trong hon cảnh ny, l vượt ln hận th thức hệ để nhn xa hơn cho tương lai dn tộc, bởi nhn thức được sự hữu hạn của kiếp người?

>>>>>> Khổ thơ tiếp theo bừng thức như nh sng chi la trong một giấc mơ:

>>>>>> Tưởng tượng nh nh đang mở cửa
>>>>>> Lng ta ngựa đ đ qua sng
>>>>>> Người đi như c theo con nước
>>>>>> Trống ngũ lin nn nả ging mừng.

>>>>>> Ngập trn khng kh cổ thi của một thời chinh chiến. Nh nh, người người ln đường theo tiếng trống trận, theo điệu kn xuất binh hng trng. N nức ra đi n nức ln đường. Đến cả con ngựa đ cũng khng cầm lng được, cũng biết sang sng. Những cu thơ linh hoạt hẳn ln, bừng sng, giu mu sắc, hnh ảnh, m thanh, gợi ti nhớ tới lời sấm Ngựa đ sang sng của cụ Trạng Trnh, sng đổi dng để ngựa đ qua bờ bn kia, thời cuộc thay đổi.

>>>>>> Phải chăng, đ chnh l ước mộng của một chiến binh kiu dũng, vừa thot ngục t từ bn kia chiến tuyến đ mơ tm lại nước, ước mơ tm được đấng minh qun để tạo dựng cơ đồ? Khng hiểu sao, đọc khổ thơ ny, trong tr c ti lại cứ hiện ln hnh ảnh bao con người c vẻ ngoi lầm lũi, cam chịu, nhẫn nại đang ngy đm m thầm cho những cuộc vượt thot. Bằng đường biển, đến con ngựa đ cũng sang sng, cũng muốn ra đi. Giấc mộng mi mi chẳng vin thnh, chỉ cn lại thực tại chề cay đắng nn lời thơ như c mu lệ sa xuống đầu ngọn bt.

>>>>>> Ta về như l rơi về cội đon tụ, xum vầy, nhn quần tề tựu quanh bếp lửa. Bởi mười năm mới được trở lại nh. Giang hồ c kẻ một tiếng cơm si cũng nhớ nh, huống chi người mười năm mới được ngồi bn bếp lửa đang độ cuối thu. Chn rượu hồng đy rưới xuống. Cho bạn. Cho th. Cho những ai cn sống v đ khuất. Cho chiến hữu cn m u đất lạ qu người trong cảnh lao t, cho cả những người đ tự chọn cho mnh một con đường, bỏ nước ra đi.

>>>>>> Tha thứ v lm lại từ đầu cho được thnh người, khng để kẻ no vi dập. Ngn từ ngậm ngi, hnh ảnh đẹp bi trng, khng kh cổ thi vẫn đậm đặc.
>>>>>>
>>>>>> Ta về như hạt sương trn cỏ hạt sương đẹp, khc xạ cả mặt trời, trong sng, tinh khi nhưng lại ngắn ngủi, ph du đến v thường, nn người ta hay v sự ngắn ngủi của kiếp người, của cuộc đời như l sương trắng. Hạt sương trn cỏ chnh l bước đi của thời gian, ngắn ngủi hữu hạn đặt cạnh v cng v tận để rồi chợt nhận ra satna bn cạnh vĩnh hằng.

>>>>>> Tuy mong manh nhưng lại chứa sức sống mnh liệt của khng gian, thời gian, đa diện, đa sắc, phải v thế chăng m ở cu thơ sau tc giả nhắc tới sinh, dị, diệt trong Đạo Phật để tm cho thấy ci tm thế an nhin tự tại. Đời người như gi như sương. Đời người như chớp mắt. Đặt cạnh số phận dn tộc, n cng mong manh, v thường.

>>>>>> Ai rồi cũng hư v. Vậy m hạt sương b bỏng vẫn phải tội tnh. Hy lin hệ với thực tại khi đ của thn phận những người t vừa ở trại cải tạo về để cảm nhận tm thế chấp nhận hon cảnh v lời than thầm của nhn vật trữ tnh

>>>>>> Ta về như sợi tơ trời trắng
>>>>>> Chấp chới tri buồn với nắng hanh
>>>>>> Ta về như tứ thơ xiu tn
>>>>>> Trong ci hoang đường trắng lng qun

>>>>>> Một loạt hnh ảnh tỉ dụ với những hnh ảnh chỉ sự hữu hạn, mong manh, hư v, đẹp đến mơ hồ.

>>>>>> Ta về khai giải ba thing yểm
>>>>>> Thức dậy đi no gỗ đ ơi
>>>>>> Hy kể lại mười năm chuyện cũ
>>>>>> Một lần kể lại để rồi thi.

>>>>>> C ba thing no kể lại được nỗi nh mười năm xa vắng? Gỗ đ khng thức dậy. Nhưng cảnh đấy người đy luống đoạn trường. Từng mi, vch, tường xiu, nhện giăng, khi m, mối xng, giậu nghing cổng đổ, thềm cỏ um tm, khch cũ khng cn ai, người mất, người t, người biệt tch h chẳng phải cảnh vật đang kể lại một cu chuyện v ngn của cảnh nh đơn chiếc, cha mẹ gi như đĩa dầu hao, vợ lặn lội chạy ăn từng bữa nui con chờ chồng, những đứa con lớn ln khng c bng dng cha đ sao?

>>>>>> Đoạn thơ ni về cảnh vật m người đọc hnh dung ra bao biến cải bể du, nhớ tới cu thơ của Nguyễn Gia Thiều: Phong trần đến cả sơn kh/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ ny. Chỉ cần nhắc một lần để rồi phải sống. Hy nhớ, bn cạnh yếu tố triết học, những m ảnh khng gian, thời gian, cảm thức su sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hon, thơ T Thy Yn chnh l thi sử, l những trang đời m thầm mu lệ của ng v những đồng hữu thời hậu chiến, v vượt ln tất cả l kh phch l thi độ sống của một người qun tử, khng tri buộc lng mnh vo hận th, khắc hận th vo trong dạ nhưng khng để n lm vẩn đục đời sống tinh thần.

>>>>>> Những cu thơ dnh cho người vợ to khang khiến người đọc khng khỏi xc động.
>>>>>>
>>>>>> Ta về như tiếng ku đồng vọng
>>>>>> Rau mc ln bờ đ trổ bng
>>>>>> Cho dẫu ngn năm em vẫn đứng
>>>>>> Chờ anh như biển vẫn chờ sng.

>>>>>> Ca dao Nam Bộ c cu:

>>>>>> Chờ anh em qu sức chờ/

>>>>>> Chờ cho rau mc ln bờ trổ bng.

>>>>>> Rau mc cng họ với lục bnh, nhưng l nhọn như hnh lưỡi mc. Hoa cũng tim tm như lục bnh nhưng bng nhỏ v t hoa hơn. Nếu lục bnh nổi lnh đnh trn mặt sng, knh rạch, thời gian sinh trưởng ngắn th rau mc c thể sống nhiều năm, mọc cố định ở đồng bưng, về ma nước nổi, rau mc theo nước vươn ln, cọng trắng phau, mập trn, c thể bứt lm thức ăn.

>>>>>> Rau mc lun mọc chi ln bờ, như ước muốn thot khỏi thn phận cy dại.

>>>>>> Rau mc trổ bng quanh năm, vậy m c gi đ trch chng trai để mnh qu sức chờ lối ni thậm xưng chỉ sự ngng trng đằng đẵng. Vậy m 10 năm đợi chờ, bao nhiu ma rau mc trổ bng? Đủ thấy tấm lng người vợ trung trinh với tiếng lng đồng vọng. Em vẫn chung thủy đợi chờ, như lẽ tất nhin, như điều bnh dị, như lng biển mnh mng nhẫn nại. C người cho rằng, đy l so snh thiếu tế nhị, thiếu mềm mại v khng thch đng. Kể ra khng phải khng c l. Biển vĩ đại, sng ngầm, bo tố, phong bađặt người đn b trong so snh với biển, dữ dội qu, tuồng như khng giống với những phẩm chất dịu hiền, thương kh mặc định của đn b Việt.

>>>>>> Nhưng hy đọc lại bao trang viết về những người vợ c chồng đi cải tạo, vừa lặng thầm chăm lo cha mẹ, vừa như con g mẹ x cnh che chở nui dạy con khỏi sự c lập, kỳ thị của người đời, vừa thu vn chắt bp thăm chồng đường xa vạn dặm, khng chỉ đối mặt với bao kh khăn về vật chất, m ci khổ lớn nhất l sự chịu đựng, o p, đe dọa về tinh thần, th khng so snh no su sắc, hm ơn bằng hnh ảnh người vợ chờ chồng như biển chờ sng

>>>>>> Ta về như nước To Kh chảy
>>>>>> Tinh đẩu mười năm đ nhạt mờ
>>>>>> Người chết đưa ta cng xuống mộ
>>>>>> Đu cn ai nữa đứng bờ ao
>>>>>> Khc người ta khc ta rơi rụng
>>>>>> Tuổi hạc i ngy một một hao.

>>>>>> Những cu thơ ny đặc phong vị Bắc. N lm người đọc lin tưởng tới cu ca dao thao thiết Đ mn nhưng dạ chẳng mn/ To Kh nước chảy vẫn cn trơ trơ v Đm qua ra đứng bờ ao/ Trng c c lặn, trng sao sao mờ. Ti khng biết khi viết những điển tch, những chỉ dấu Bắc kỳ tuyệt đẹp ny, ng đ đọc những cu ca dao Bắc ny chưa, nếu chưa, th quả thực chất Bắc đ ngấm vo hồn thơ ng hồn nhin, nhuần nhị như năm xưa Tướng qun Trần Nhật Duật ln miền ngược uống rượu với người Man, thuần thục đến mức được coi như g người Man chnh hiệu.

>>>>>> Ti đặc biệt thch khổ thơ:

>>>>>> Ta về như bng ma hờn tủi
>>>>>> Lục lại thời gian kiếm chnh mnh
>>>>>> Ta nhặt m thương từng phế liệu
>>>>>> Như từng hi cốt sắp v danh.

>>>>>> Tại sao lại l bng ma hờn tủi? L bởi v bị bức tử về tinh thần, bị o p về mặt thn xc, đ thnh một con ma người tồn tại ở ci buổi nghi kị, tố gic, căm th v độc địa. Nhưng nhn vật trữ tnh trong thơ T Thy Yn, lun lun cảm nhận r cảnh ngộ, thn phận, v c phần no an phận, nhưng tuyệt đối khng ci đầu

>>>>>> Vượt ln tất cả nghịch cảnh l sự tiếc nuối, xt xa, thương yu, bao dung v tha thứ. Buộc phải chết, bị p vo tuyệt lộ nhưng vẫn khng bao giờ đnh mất mnh. Mười năm ta vẫn cứ l ta. Điềm đạm, ngang tng, uy vũ bất năng khuất. Nếu ở khổ thơ trn, một bng hoa nở cũng đủ để nh thơ ci đầu cảm tạ, th tới đy, ng lại thương từng phế liệu, những dấu tch thời chiến, dấu tch của cuộc đời khc, thuở được lm người.

>>>>>> Một mối tương lin khi nhn những mảnh phế liệu m nghĩ tới phận mnh, mnh giờ đy c khc g mảnh phế liệu thnh v danh ngay trn mảnh vườn nh. Nhn thấy ở mỗi sự vật đều c linh hồn, để m thương lấy mnh, để m sống cho nhn i khoan ha. Tm thế đ dường như l một chất ring của thơ T Thy Yn. ng vượt thot cc giới hạn, khng phải để lảng trnh, m để đối mặt, nhn r bản chất, khng để hận th m để thứ tha. Bởi thế, ti cho rằng, thơ T Thy Yn cn giu Phật tnh, khng chỉ ring trong bi thơ ny.

>>>>>> Ta về như hạc vng thương nhớ
>>>>>> Một thuở trần gian bay lướt qua
>>>>>> Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
>>>>>> Đnh khng trải hết được lng ta.

>>>>>> Từ ngn xưa, trong tm thức văn ha Đng, Hạc được v như chim thing, l linh vật bất tử trong thế giới loi chim. Hạc c sải cnh di rộng, bay vt trời cao, vượt mun trng my, snh với người ưu t c năng lượng sống dồi do, mạnh mẽ đương đầu kh khăn sng gi, lại trong sạch thuần khiết giống bậc qun tử, tiếng ku thnh tht của nhn ti.

>>>>>> Do đ, Hạc được xem như biểu tượng của tr tuệ v cốt cch thanh cao, vượt khỏi đời tầm thường tục lụy. Đy l khổ thơ xứng lm ci kết cho bản trường thi lộng lẫy, thể hiện sự song hnh giữa ci hữu hạn bn cạnh ci v hạn, giữa thanh cao v tục lụy, giữa bung xả v luyến thương. Đời l ci tạm, cn ta chỉ như loi chim qu trt nặng lng thương nhớ trần gian một thuở lm người m về lại bn đời, để rồi vỗ cnh. Thế th những t đầy, oan tri cn xảy ra thm vi lần nữa cũng c g đng sợ.

>>>>>> Trong tầm vng giới hạn của kiếp người, T Thy Yn đ lm được điều m ng hằng trăn trở. D đời người hữu hạn, vũ trụ v cng, nhưng bằng những thi phẩm để lại cho đời, ng xứng l con chim hạc bay qua miền đất ny v cất tiếng lng bi trng, thống thiết, thnh tht, chạm tới tận cng những cung bậc cảm xc.
>>>>>>

>>>>>> TA VỀ- Đu chỉ l về với qu hương bản qun m n cn l cuộc trở về với bản thể, trở về với chnh mnh để truy tm những cu hỏi lớn: Rốt cuộc, sau bao nhiu thống khổ, ta l ai? Ta l cnh hạc vng bay trong chiều thương nhớ để dng đời khc ht của một đời ly loạn, khng phải để hận th, chia biệt, m để loi người biết thương xt nhau thm.
>>>>>>
>>>>>> Trong lần trả lời phỏng vấn của bo Người Việt gần đy, T Thy Yn c kể lại một kỷ niệm rằng, thập nin 90, nh thơ Thanh Tm Tuyền trong khi thu xếp để chờ đi Mỹ, khi đến nh chơi c ni: Đất nước ny rồi sẽ phải trải qua những biến động lịch sử tan tc kinh hồn chẳng thể cản trnh được, ti ra đi xa lnh, anh cn ở lại, anh hoặc l ai đ sẽ phải viết một bi thơ m chất liệu l ni xương sng mu, l hng triệu ci xc chết.

>>>>>> May mắn, tới by giờ thi nhn Việt Nam chưa ai phải viết ra tc phẩm như Thanh Tm Tuyền dự đon, nhưng với khối lượng sng tc đng nể, T Thy Yn đ tạc ln một Ci Người, một Ci Phật, một Ci Lo, Trang, một Thời Đại đặc biệt bằng thi ca, v như thế, trong mắt những người yu thơ T Thy Yn, th ng mi mi MỘT BNG TRN ĐƯỜNG LỚN.



Monitor only (poster can delete own posting with password "delete")
Password:   

Share your opinion!
________________________

Post A Followup

Name:       E-Mail:
Subject:
Comments:
 Mã đang dùng: 

VIETUNI [V1.618] viết bởi Trần Anh Tuấn, lấy từ website chính của Anh Tuấn


[ VSGardens Forum ]